Thầy

Tibetan monks marched in Dharamsala to call for freedom of Tibet

Vì sao tôi say mê Tây Tạng?

5 năm trước, tôi chả biết Tây Tạng là cái gì, nằm ở đâu, có lịch sử thế nào. Tất cả bắt đầu vào một buổi chiều, khi tôi chạy xe qua một con hẻm. Thật kì lạ là bây giờ tôi không thể nhớ con hẻm đó nằm ở đâu, hoàn cảnh xung quanh như thế nào. Chỉ nhớ tôi đã nghe tiếng nhạc vọng ra từ một ngôi nhà, đó là một điệu cầu kinh, hát bằng một ngôn ngữ mà tôi không hiểu, nhưng câu chú đó thì rất quen thuộc: “Om Mani Padme Hum”.

Buổi chiều đó đã thay đổi tất cả. Trong đầu tôi lúc nào cũng nghe văng vẳng bài hát đó, giai điệu đó. Tôi đem giai điệu đó mô tả với mẹ tôi, một người hiểu biết rất nhiều về Phật pháp, bằng cách nào đó, bà đã tìm được đúng bài hát ám ảnh tôi:

…và phần còn lại của câu chuyện là những gì bạn đã biết.

Tình yêu mãnh liệt của tôi dành cho Tây Tạng, thứ tình cảm khiến tim tôi thắt lại mỗi khi nghĩ đến, đã bắt đầu như thế, vào một buổi chiều, trong một con hẻm, với một câu chú từ đó theo tôi suốt đời…

Khi ngồi ở chánh điện chùa Namgyal chờ Đức Đạt Lai Lạt Ma quang lâm, tôi đã lần đầu tiên hát lên giai điệu đó, cùng với hàng ngàn Phật tử khác đến từ khắp nơi trên thế giới. Ban tổ chức dùng cách đó để giúp các Phật tử tịnh tâm, mở lòng hướng về Phật pháp, một cách ổn định trật tự hiệu quả, nhất là với người  VN có thói quen ngồi không thì bắt đầu…tám. Tôi nhắm mắt lại, lắng nghe tiếng niệm chú của mình, mỏng manh và xao động. Bên trái tôi, những vị lạt ma Tây Tạng niệm chú bằng giọng trầm, khỏe, ngân vang. Âm thanh chứa đựng sự bí ẩn, vừa có uy lực, vừa có tác dụng xoa dịu. Tôi không nhớ bao nhiêu lần mọi lo âu căng thẳng trong mình tan biến hết khi nghe tiếng tụng niệm đặc trưng của Mật tông Tây Tạng ấy.

Tôi đang tham dự buổi giảng pháp đầu tiên dành cho người Việt Nam của Đức Đạt Lai Lạt Ma tại Dharamsala, do pháp hội Liên Hoa Tuyết (Snow Lotus Foundation) đứng ra tổ chức. Điều đó có nghĩa là các Phật tử  Việt Nam được ngồi trong chánh điện và khu vực cửa sổ của chánh điện, gần Ngài nhất, còn  Phật tử các nước khác thì ngồi ở các sảnh lớn xung quanh, nhìn Ngài qua màn hình ti vi tường thuật trực tiếp. Hôm đó, Ngài giảng bài Xưng tán Duyên khởi do Tông Khách Ba trước tác để xưng tụng và tán dương thuyết  Duyên khởi của Đức Phật. Ngài giảng bằng tiếng Tạng, có phiên dịch các thứ tiếng Việt, Anh, Trung, Tây Ban Nha, Hindi,…

Trên cuộc đời có những chuyện xảy ra khiến bạn phải cấu vào tay mình để đảm bảo mình không nằm mơ. Tôi đã có cảm giác lơ lửng trong suốt hai ngày làm học trò của Thầy, một vinh dự mà cô bạn đi chung vẫn không thôi thắc mắc: “Đến giờ T vẫn không hiểu tại sao mình lại có được phước lớn như vậy.” Tôi nhớ khi lần đầu tiên nhìn thấy Thầy, dù chỉ từ xa, tôi đã xúc động muốn khóc. Cứ gọi chúng tôi là những kẻ cuồng đạo, vì tôi không biết làm sao để giải thích cho bạn hiểu cảm giác hạnh phúc đó.

Chính Thầy là người phá tan sự cuồng tín nếu có trong bất kì ai dành cho Phật pháp, khi mở đầu bài giảng bằng câu nói mà tôi khắc cốt ghi tâm: “Bây giờ đã là thế kỉ 21. Đối với giáo lý Phật pháp, phải học để hiểu, hiểu rồi mới tin,” và kết thúc 2 ngày giảng pháp với lời nhắn nhủ: “Để hiểu giáo lý  Phật pháp, phải biết phân tích và suy nghĩ biện luận, không dùng niềm tin.”

Tôi tự hỏi có tôn giáo nào khuyến khích tín đồ của mình làm như thế.

Thầy giảng về tánh không, về duyên khởi, những triết lý rất Phật giáo, rất thâm sâu và vi diệu mà những kẻ “một chân trên bờ, một chân dưới nước” như tôi chẳng lĩnh hội được là mấy. Nhưng nếu hỏi tôi nhớ gì nhất về hai ngày học, tôi sẽ nói đó là sự  uyên bác của Thầy, sự gần gũi và dí dỏm khó tìm thấy ở một bậc thánh hiền nào khác trên thế giới. Thầy không chỉ dạy lý thuyết Phật giáo, Thầy còn dạy chúng tôi tôn trọng những tôn giáo khác. “Các giáo lý có thể không đúng, nhưng phục vụ chúng sanh hợp với trình độ và căn cơ của họ, do đó chúng ta phải tôn trọng các tôn giáo khác. Khi đi giảng pháp ở những nước phương Tây, tôi không kêu gọi tín đồ Công Giáo hoặc Do Thái Giáo cải đạo, vì họ thấy tôn giáo đó phù hợp với họ, và họ đi theo. Tôi tôn trọng điều đó…”

Tại pháp hội, Thầy làm lễ quán đảnh (đỉnh) cho tất cả những ai tham dự. Đó là một nghi thức khai thị đặc trưng của Phật giáo Kim Cương Thừa  (Phật Giáo  Tây Tạng).

Theo nguồn này, lễ quán đỉnh là nghi thức mà một bậc thày tu chứng thành tựu một pháp môn nào đấy trao truyền trực tiếp cho các đệ tử pháp môn đó, bao gồm mô tả, giảng nghĩa, quán tưởng và thứ lớp tu tập cùng với các nghi lễ cúng dường và thần chú tương ứng. Mặc dù vậy, quán đỉnh còn mang ý nghĩa nhiều hơn những gì cấu thành nên nó; nó là sự trao truyền nguồn ân phúc và năng lực gia trì của cả một dòng truyền thừa.

Đại khái thì sau buổi lễ đó, những người tham dự đã trở thành đệ tử của Thầy, và điều duy nhất Thầy yêu cầu từ họ là phát  Tâm Bồ Đề, làm lợi cho chúng sinh.

Tôi nghĩ không phải ai có mặt trong buổi lễ ấy cũng hiểu hết ý nghĩa của nó. Bản thân tôi, chỉ vài phút trước khi viết bài này, mới thảng thốt nhận ra, mình đã trở thành một trong những đệ tử cuối cùng của dòng Mật giáo truyền thừa được chính bổn sư Đạt Lai Lạt Ma khai thị. Vì đã không ít lần  Thầy ám chỉ mình sẽ không tái sinh nữa. Tôi biết việc này nghe có vẻ “mê tín dị đoan” với nhiều bạn, và nó không có ý nghĩa gì với bạn cả, tôi cũng không cố gắng thuyết phục bạn tin vào điều đó. Nhưng nếu bạn tin vào truyền thống tái sinh , thì đó sẽ là một tin buồn, rất buồn.

Nếu bạn tin, thì bạn có thể hình dung, truyền thống tái sinh Đạt Lai Lạt Ma đến đây là hết, sẽ không còn Đạt  Lai Lạt Ma thứ 15 nữa. Bạn có thể được một bậc cao tăng khai thị, nhưng người đó không phải là Đạt Lai Lạt Ma, hóa thân của Bồ Tát Quan Thế  Âm, chỗ dựa tinh thần của gần 6 triệu người  Tây Tạng. Ở đây nó không chỉ là yếu tố tâm linh, mà còn là ám chỉ về tương lai vận mệnh của Tây Tạng. Mỗi người có thể có một cách diễn dịch khác nhau, nhưng với tôi, Tây Tạng sẽ không còn là Tây Tạng nếu không có Đạt Lai Lạt  Ma.

Vì vậy, tôi đã cảm thấy mất mát và đau đớn, khi nghe Thầy trả lời câu hỏi, trong buổi vấn đáp dành riêng cho người  Việt vào chiều ngày 29-6.

“Xin Thầy cho biết, kiếp sau Thầy có còn tái sinh  không?”

“Người ta tái sinh là do kiếp này nguyện làm một việc gì đó nhưng chưa hoàn thành.  Họ tái sinh trong kiếp sau để hoàn tất việc đó. Bây giờ việc Đạt Lai Lạt Ma tái sinh không còn ý nghĩa nữa…”

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s